Sau khi tham quan và dự giờ học theo phương pháp mới, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển đánh giá, VNEN là mô hình trường học mới có rất nhiều ưu điểm:

- Phương pháp dạy học này coi trọng việc tự học của học sinh, phát huy được tính chủ động của các em, đặc biệt là rèn luyện cho các em phương pháp tự học, sáng tạo, do đó học sinh sẽ có kết quả học tập tốt hơn.

- Mô hình trường học mới VNEN có cách thức tổ chức hoạt động giáo dục trong nhà trường rất sáng tạo. Phát huy được tinh thần chủ động, tinh thần tập thể và hợp tác của các em học sinh. Các em được học nhóm, sinh hoạt nhóm và tự quản trong nhà trường.

- Mô hình VNEN đề cập đến hình thức hoạt động trên lớp, trong đó, học sinh tự hoạt động và tự rút ra kiến thức. Người giáo viên là người đóng vai trò tổ chức hoạt động, và hướng dẫn các em hoạt động để thu nhận được kiến thức. Giáo viên không trực tiếp cung cấp kiến thức có sẵn trong sách.

MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI TẠI VIỆT NAM

- Dự án Mô hình trường học mới tại Việt Nam (Dự án GPE-VNEN, Global Partnership for Education – Viet Nam Escuela Nueva) là một Dự án về sư phạm nhằm xây dựng và nhân rộng một kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục Việt Nam.

- Mô hình trường học mới khởi nguồn từ Côlômbia từ những năm 1995-2000 để dạy học trong những lớp ghép ở vùng miền núi khó khăn, theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm. Mô hình này vừa kế thừa những mặt tích cực của mô hình trường học truyền thống, vừa có sự đổi mới căn bản về mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, tài liệu học tập, phương pháp dạy – học, cách đánh giá, cách tổ chức quản lí lớp học, cơ sở vật chất phục vụ cho dạy – học…

- Điểm nổi bật của mô hình này là đổi mới về các hoạt động sư phạm, một trong những hoạt động đó là đổi mới về cách thức tổ chức lớp học. Theo mô hình của trường học mới, quản lí lớp học là “Hội đồng tự quản học sinh”, các “ban” trong lớp, do học sinh tự nguyện xung phong và được các bạn tín nhiệm. Sự thành lập cũng như hiệu quả hoạt động của “Hội đồng tự quản học sinh”, các “ban” rất cần sự tư vấn, khích lệ, giám sát của giáo viên, phụ huynh, sự tích cực, trách nhiệm của học sinh. “Hội đồng tự quản học sinh” là một biện pháp giúp học sinh được phát huy quyền làm chủ quá trình học tập, giáo dục. Học sinh có điều kiện hiểu rõ quyền và trách nhiệm trong môi trường giáo dục, được rèn các kĩ năng lãnh đạo, kĩ năng tham gia, hợp tác trong các hoạt động.

- Hội đồng tự quản là do học sinh, với sự hướng dẫn của giáo viên tự tổ chức và thực hiện. “Hội đồng tự quản học sinh” bao gồm các thành viên là học sinh. Hội đồng tự quản được thành lập là vì học sinh, bởi học sinh và để đảm bảo cho các em tham gia một cách dân chủ, tích cực vào đời sống học đường; khuyến khích các em tham gia một cách toàn diện vào các hoạt động của nhà trường, phát triển tính tự chủ, sự tôn trọng, bình đẳng, tinh thần hợp tác và đoàn kết của học sinh.

- Sơ đồ: Tổ chức Bộ máy Hội đồng tự quản học sinh bao gồm:

+ 1 Chủ tịch Hội đồng tự quản học sinh,

+ 2 phó Chủ tịch Hội đồng tự quản,

+ Các ban tham gia Hội đồng tự quản (Ban học tập, Ban quyền lợi, Ban sức khoẻ, vệ sinh,  Ban văn nghệ, thể dục, Ban thư viện; Ban đối ngoại…)

- Quá trình thành lập Hội đồng tự quản học sinh: Thành lập Hội đồng tự quản học sinh đòi hỏi phải có sự tham gia của giáo viên, học sinh, khuyến khích phụ huynh và các tổ chức khác cùng tham gia. Giáo viên cần chuẩn bị về tư tưởng cho học sinh khi các em tham gia Hội đồng tự quản, những lợi ích có thể có của Hội đồng tự quản học sinh tới cuộc sống của chính các em trong nhà trường những vai trò, trách nhiệm mà các em cùng chia sẻ, gánh vác.

1. Trước bầu cử

Sau khi hoàn thành bước chuẩn bị về tư tưởng cho học sinh, giáo viên cùng học sinh thảo luận về cơ cấu Hội đồng tự quản thông thường là 1 chủ tịch, 2 phó chủ tịch. Tuy nhiên số lượng phó chủ tịch tuỳ vào đặc điểm của mỗi lớp, trường học khác nhau. Học sinh, dưới sự định hướng của giáo viên trao đổi về những phẩm chất, năng lực cần có của các bạn trong Hội đồng tự quản. Sau đó học sinh lập danh sách ứng cử và danh sách đề cử để bỏ phiếu bầu Hội đồng tự quản học sinh. Ban kiểm phiếu cũng là học sinh, bao gồm trưởng ban và một số thành viên khác, dưới sự hướng dẫn của giáo viên tiến hành kiểm phiếu. Các học sinh trong danh sách ứng cử, đề cử sẽ có thời gian để chuẩn bị phần ứng cử của mình với nội dung: Giới thiệu về bản thân, những mong muốn của em về lớp học, những việc em sẽ làm nếu như em trở thành Chủ tịch Hội đồng tự quản. Đây là một hoạt động nhằm tạo điều kiện cho học sinh được cảm thấy dân chủ, công bằng, bình đẳng và được học cách thuyết trình trước đám đông.

2. Bầu cử

Một học sinh dưới sự hỗ trợ của giáo viên sẽ điều hành bầu cử. Các ứng cử viên lần lượt tranh cử bằng các bài thuyết trình đã được chuẩn bị trước. Giáo viên lưu ý không để học sinh cầm giấy đọc mà chủ động thể hiện khả năng thuyết trình của mình. Ban kiểm phiếu làm việc sau khi các ứng cử viên đã thuyết trình xong. Học sinh nào có số phiếu cao nhất từ trên xuống sẽ trúng cử vào vị trí Chủ tịch và phó Chủ tịch Hội đồng tự quản học sinh. Chủ tịch và Phó Chủ tịch ra mắt trước lớp.

3. Thành lập các ban chuyên trách

Chủ tịch và phó Chủ tịch Hội đồng tự quản học sinh cùng bàn bạc với giáo viên để quyết định thành lập các ban chuyên trách và thông báo rõ về vai trò của các ban như: Học tập, sức khoẻ và vệ sinh, quyền lợi học sinh, lao động, thư viện... Số lượng các ban tuỳ theo tình hình lớp học và sự thống nhất giữa Chủ tịch, phó Chủ tịch Hội đồng tự quản và học sinh trong lớp quyết định. Hội đồng tự quản cùng giáo viên chủ nhiệm, có sự hỗ trợ của phụ huynh khuyến khích học sinh đăng kí vào các ban theo nguyện vọng, sở thích. Sau khi thành lập các ban, tiến hành bầu trưởng ban, thư kí và xây dựng kế hoạch hành động, động viên các bạn cùng tham gia hoạt động. Để làm việc có hiệu quả, mỗi ban nên có sự hỗ trợ, tư vấn của một phụ huynh và giáo viên.

Có thể nói, quá trình thành lập “Hội đồng tự quản học sinh” giúp các em hiểu được quá trình bầu cử tự do, công bằng và dân chủ của đất nước, của địa phương; giúp học sinh có thể nảy sinh đề xuất những ý tưởng mới của chính các em. Thông qua hoạt động này học sinh tự giác hơn, phát huy tinh thần trách nhiệm, sự sáng tạo trong quản lý và chỉ đạo những công việc được giao. Hy vọng rằng, mô hình dạy học kiểu mới sẽ ngày càng được nhân rộng để các em học sinh, phụ huynh và các thầy cô giáo được cùng nhau tham gia vào quá trình dạy - học đảm bảo theo mong muốn của xã hội về nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh trong giai đoạn hiện nay./.

 

6 lý do giáo viên “nói không” với mô hình trường học mới VNEN

1. Sách giáo khoa VNEN không khoa học

Nội dung trong sách được thiết kế sẵn, học sinh chỉ cần đọc và bắt chước một cách máy móc nên gây nhàm chán. Chỉ có một số nội dung về tổ chức lớp học, về trang trí là khá ổn. Giáo viên và học sinh rất vất vả khi làm việc theo những mục yêu cầu trong sách, cứ phải giải thích rồi thực hiện nhiều lần mà học sinh vẫn không hiểu. Có năm lại phải dạy đến 2 bộ sách giáo khoa khác nhau, nhiều khi lại còn phải điều chỉnh thêm rồi bớt.

Tài liệu các môn học không được phân chia rõ ràng như chương trình hiện hành VNEN áp dụng 5 năm nay rồi nhưng sách hướng dẫn cho học sinh môn âm nhạc, mỹ thuật, thủ công, thể dục, kỹ thuật chưa có, nên giáo viên dạy phải viết sách. Chưa kể đối với các trường nhân rộng và đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa việc mua được một bộ sách là cả một gánh nặng. Vì là thử nghiệm nên phải học cả trương trình cũ, bài tập làm toàn dễ xong lại trùng lặp, khi thi toàn theo chương trình cũ, nếu muốn thi học sinh giỏi thì toàn phải học thêm nâng cao.

2. Bất cập về chỗ ngồi và sĩ số

Với sĩ số đông như các lớp ở thành phố, vất vả cho việc giảng dạy của giáo viên và việc tiếp thu kiến thức của học sinh. Học sinh đông đồng nghĩa với nhóm đông, làm việc không hiệu quả, sức học không đồng đều nhau sẽ có người tự tin và kẻ tự ti. Ngồi như thế, đến lúc kiểm tra các em cũng dễ nhìn bài làm của bạn hơn nên chất lượng là không có. Sắp xếp chỗ ngồi để các cháu không bị cong vẹo cột sống, không bị các tật về mắt là cả một vấn đề.

Dạy theo VNEN thầy cô viết bảng ít, các cháu hầu hết tự nghiên cứu, mỗi khi cô giảng sức tập trung của các cháu rất kém. Với sĩ số thưa thớt như các lớp học vùng cao thì mô hình này cũng không phù hợp. Các em nói tiếng phổ thông chưa rành nên khả năng diễn đạt, trình bày, hợp tác theo nhóm là rất khó khăn.

3. Hội đồng tự quản như...vẹt

Việc thành lập Hội đồng tự quản và trao quyền cho học sinh cũng là điều mà chúng tôi cảm thấy khó khăn. Từ trước tới giờ, chúng tôi chỉ quản lý học sinh theo các nội quy, giờ chuyển sang quản lý của Hội đồng tự quản. Học sinh tự bầu, tự quản các hoạt động của lớp thường mang tính hình thức, không phát huy được hiệu quả của Hội đồng tự quản.

VNEN khiến học sinh thụ động, không tiếp thu được kiến thức. Còn với chủ tịch Hội đồng tự quản hay Trường ban học tập thì như một con vẹt. Không phải học sinh nào cũng có khả năng tự tìm tòi chiếm lĩnh kiến thức hay chia sẻ nên mô hình này rất bất cập không phù hợp với Việt Nam. VNEN chỉ làm học sinh lười học, ngồi nhóm thi nói chuyện, nhóm trưởng và các bạn học khá làm hộ hết.

4. Chết ngộp vì trang trí

Rồi việc trang trí lớp học theo mô hình VNEN cũng làm chúng tôi mất nhiều công sức và cả tiền của nữa. Trang trí cái gì và trang trí thế nào đây? Các cô lại nô nức đi mua hoa nhựa, đồ chơi về sắp xếp. Có những lớp được rải gần kín hoa khắp bốn bức tường, đồ chơi bằng nhựa cũng tiêu tốn của chúng tôi không ít tiền của. Chưa kể đến việc phải dạy và học trong một căn phòng đầy những biểu bảng, đồ dùng dạy học lẫn trang trí khiến chúng tôi cảm thấy ngộp. Nói đến cái khoản làm đồ dùng dạy học cũng đủ khiến giáo viên chúng tôi quên ăn, mất ngủ.

5. Trình độ học sinh không đồng đều

Học sinh Việt Nam có tư duy và khả năng làm việc độc lập không cao, khác hẳn với học sinh nước ngoài trong khi giáo viên chỉ là người hỗ trợ dẫn đến chất lượng học tập không như những gì người giáo viên đặt ra. Đối với học sinh giỏi thì rất tự giác, tích cực trong học tập. Còn học sinh kém thì ngược lại. Bỏ mô hình VNEN là tốt nhất vì mô hình này không phù hợp với nền giáo dục Việt Nam hiện tại, nhất là học sinh vùng núi. Học sinh chúng tôi đa số là dân tộc miền núi, các em nhút nhát, vốn tiếng Việt còn hạn chế. Các em còn tự ti, ngại trao đổi nhóm. Bởi vậy nếu cứ để mô hình này thì học sinh sẽ hạn chế hơn chương trình hiện hành.

6. Giáo viên diễn nhiều hơn dạy

Khi được cấp trên giao một tiết chuyên đề dạy theo mô hình VNEN, thường một lớp 44 em, sẽ được chọn ra 24 em, chia thành bốn nhóm. Suốt hai tuần, các em sẽ được tập diễn, nào là giới thiệu tên, tập các trò chơi, tự học nhóm. Cả thầy và trò đều rất căng thẳng. Đến mức, trường cử ngay một hiệu phó với nhiều thầy cô giáo để chung tay hường dẫn từng em một diễn cho thật đạt mô hình trên. Giờ dạy mẫu VNEN phải mất bao nhiêu thầy cô giáo chuẩn bị cho trò, trò mới nói được như vậy.

Cũng có thể Ngài Tân Bộ trưởng chẳng đọc lá thư này, nhưng chúng tôi vẫn hi vọng một ngày không xa sẽ có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực của ngành Giáo dục nói chung, Giáo dục Tiểu học nói riêng. Khi đó tôi và các đồng nghiệp sẽ vui mừng và rất cảm ơn lãnh đạo Bộ GD ĐT! Cuối thư, xin kính chúc Ngài mạnh khỏe, sáng suốt để đưa nền giáo dục nước nhà tiến bộ!